Một điểm đáng chú ý của Thông tư 04/2026/TT-BKHCN là việc trình bày lại toàn bộ bảng danh mục phương tiện đo nhóm 2 theo một cấu trúc thống nhất, thay vì chỉ sửa đổi, bổ sung cục bộ từng nhóm phương tiện đo như trong các lần điều chỉnh trước đây. Cách tiếp cận này giúp hệ thống hóa đầy đủ các quy định về danh mục, biện pháp kiểm soát đo lường và chu kỳ kiểm định trong một bảng tổng hợp, tạo thuận lợi cho việc tra cứu, áp dụng và giảm việc phải đối chiếu nhiều văn bản qua các giai đoạn.
Danh mục phương tiện đo nhóm 2 hiện nay gồm 69 loại phương tiện đo, bao phủ các lĩnh vực quan trọng như thương mại, y tế, môi trường, giao thông, năng lượng và quan trắc kỹ thuật. Việc quản lý tiếp tục thực hiện theo bốn biện pháp kiểm soát đo lường chủ yếu: phê duyệt mẫu, kiểm định ban đầu, kiểm định định kỳ và kiểm định sau sửa chữa, nhằm bảo đảm độ chính xác và độ tin cậy của kết quả đo.
Trên cơ sở kế thừa các quy định trước đây, danh mục không chỉ bao gồm các phương tiện đo phổ biến như cân, công tơ điện, đồng hồ nước, cột đo xăng dầu, huyết áp kế, mà còn mở rộng sang các thiết bị đo chuyên ngành trong lĩnh vực môi trường, quan trắc và kỹ thuật.
Đáng chú ý, các thiết bị đo điện năng phục vụ sạc pin xe điện tiếp tục được đưa vào diện quản lý bắt buộc với chu kỳ kiểm định cụ thể, phù hợp với xu hướng phát triển hạ tầng giao thông điện.
Việc chuẩn hóa danh mục phương tiện đo nhóm 2 góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về đo lường, đồng thời giúp các tổ chức kiểm định và doanh nghiệp xác định rõ nghĩa vụ pháp lý, bảo đảm tính chính xác trong hoạt động sản xuất, kinh doanh và đời sống xã hội.
Danh mục phương tiện đo nhóm 2: những nội dung kỹ thuật cần lưu ý trong quá trình áp dụng
Theo Thông tư 04/2026/TT-BKHCN, danh mục phương tiện đo nhóm 2 gồm 69 loại, được sử dụng trong các lĩnh vực ảnh hưởng trực tiếp đến thương mại, y tế, môi trường và an toàn xã hội. Về kỹ thuật, có thể phân thành các nhóm chính:
-
Nhóm thương mại, dịch vụ dân sinh: gồm taximet, cân, cột đo xăng dầu, đồng hồ nước, khí, công tơ điện; yêu cầu kiểm soát chặt chẽ về độ chính xác, tính ổn định và chu kỳ kiểm định do liên quan trực tiếp đến thanh toán.
-
Nhóm y tế: gồm huyết áp kế, nhiệt kế, thiết bị điện tim, điện não; đòi hỏi độ tin cậy cao nhằm bảo đảm chất lượng chẩn đoán và an toàn cho người bệnh.
-
Nhóm môi trường và an toàn xã hội: gồm thiết bị đo nồng độ cồn, bụi, khí, thông số nước; yêu cầu bảo đảm độ chính xác trong điều kiện thực tế và khả năng truy xuất chuẩn.
-
Nhóm quan trắc và hạ tầng kỹ thuật: gồm thiết bị khí tượng thủy văn, trắc địa, định vị vệ tinh; yêu cầu cao về độ ổn định lâu dài và độ tin cậy dữ liệu.
Ngoài ra, danh mục đã bổ sung các thiết bị đo điện năng phục vụ sạc pin xe điện, nhằm bảo đảm tính chính xác và minh bạch trong giao dịch tại hạ tầng sạc.
Tổng thể, Thông tư 04/2026/TT-BKHCN đã chuẩn hóa danh mục, biện pháp kiểm soát đo lường và chu kỳ kiểm định, tạo thuận lợi cho cơ quan quản lý, tổ chức kiểm định và doanh nghiệp trong quá trình áp dụng.

Việc ban hành Thông tư 04/2026/TT-BKHCN góp phần chuẩn hóa danh mục phương tiện đo nhóm 2, đồng thời quy định rõ biện pháp kiểm soát đo lường và chu kỳ kiểm định đối với từng loại phương tiện đo. Qua đó, giúp các tổ chức, doanh nghiệp thuận lợi trong việc xác định yêu cầu kỹ thuật và bảo đảm độ chính xác của phép đo trong hoạt động sản xuất, kinh doanh và dịch vụ.
Trong quá trình sử dụng, các đơn vị cần thực hiện đầy đủ các biện pháp kiểm soát đo lường như kiểm định ban đầu, kiểm định định kỳ và kiểm định sau sửa chữa; đồng thời chú trọng công tác lắp đặt, vận hành và bảo dưỡng để duy trì ổn định đặc tính đo lường và độ tin cậy của kết quả đo.
Trung tâm Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Lâm Đồng sẵn sàng hỗ trợ các tổ chức, doanh nghiệp thông qua hoạt động kiểm định, hiệu chuẩn, thử nghiệm và tư vấn kỹ thuật, giúp bảo đảm phương tiện đo đáp ứng yêu cầu về độ chính xác và phù hợp với điều kiện sử dụng thực tế.
Việc tuân thủ quy định về phương tiện đo nhóm 2 không chỉ là yêu cầu kỹ thuật mà còn góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ và tạo dựng niềm tin trong giao dịch; qua đó thúc đẩy hiệu quả ứng dụng khoa học kỹ thuật trong thực tiễn.
Lê Thành Trung