Hotline: 0252 3822390 - 0908700379 lamdongtdc@gmail.com
Danh mục
Slide mặc định
Slide mặc định
Slide mặc định
Slide mặc định
Slide mặc định
Slide mặc định
Slide mặc định
Slide mặc định

Ứng dụng vi khuẩn lactic: Rút ngắn thời gian sinh hương của nước mắm

26/04/2022 1652 lượt xem

Việc ứng dụng vi khuẩn lactic để rút ngắn thời gian sinh hương trong quá trình lên men sẽ góp phần nâng cao sức cạnh tranh của nước mắm truyền thống - hiện đang yếu thế trước các loại nước mắm công nghiệp trên thị trường hiện nay.

Dù được coi là loại gia vị “quốc hồn quốc túy” của Việt Nam từ hàng ngàn năm nay song giờ đây, nước mắm truyền thống, một sản phẩm gia vị lỏng được làm từ cá và muối lên men, đang mất đi vị thế ngay trên sân nhà. Theo thống kê của Hội Lương thực thực phẩm TP.HCM năm 2018, dù trung bình mỗi năm, Việt Nam tiêu thụ khoảng 250 triệu lít nước mắm nhưng chỉ hơn 20% là nước mắm truyền thống. Phần còn lại là nước mắm công nghiệp, loại nước mắm truyền thống đã bị pha loãng và bổ sung thành phần hương vị, chất bảo quản...
 
Hầu hết các cơ sở sản xuất nước mắm truyền thống như Cửa Hội phải mất cả năm trời để nước mắm lên hương vị. Nguồn: TTXVN
 
Theo các chuyên gia, nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng này là do hương vị và giá cả của nước mắm truyền thống chưa đủ sức cạnh tranh. “Nhìn chung, chế biến nước mắm theo phương pháp cổ truyền ở nước ta còn thô sơ và thời gian chế biến còn dài (khoảng 12 tháng) nên hiệu quả kinh tế còn thấp”, PGS.TS. Lê Thanh Hà ở Viện Công nghệ sinh học và Công nghệ thực phẩm (trường ĐH Bách khoa Hà Nội) nhận xét. Phương pháp truyền thống cũng tạo ra hương vị nước mắm nồng mặn đặc trưng, ít được người trẻ ưa thích bằng các loại nước chấm công nghiệp dịu nhẹ.
 
Liệu khoa học công nghệ có thể giải quyết phần nào bài toán của nước mắm? Xuất phát từ suy nghĩ này, PGS.TS. Lê Thanh Hà và các cộng sự đã thực hiện đề tài “Nghiên cứu phân lập Tetragenococcus sp. chịu mặn ứng dụng làm chủng khởi động nhằm cải thiện nước mắm ngắn ngày” (BKA-2017-15A, từ năm 2017-2018). Kết quả là chị đã tìm ra chủng vi khuẩn có khả năng rút ngắn quá trình ủ tạo hương cho nước mắm, vừa tiết kiệm thời gian, vừa giảm bớt hàm lượng đạm thối (đạm amon) - yếu tố chính đem đến sự “nặng mùi” của nước mắm.
 
Sức mạnh của con vi khuẩn bé nhỏ
 
Đi tìm đến những miền biển làm nước mắm trên cả nước, các nhà nghiên cứu phát hiện ra những điều lý thú trong quy trình làm ra thứ nước chấm sánh đặc và dậy mùi hương đặc biệt này. Với đường bờ biển kéo dài qua nhiều vĩ độ, mỗi vùng biển Việt Nam lại có cách sản xuất nước mắm khác nhau tùy theo điều kiện tự nhiên. Ở miền Bắc ít nắng, người dân thường dùng phương pháp phơi nắng - khuấy đảo, ở miền Nam nắng nhiều hơn nên có phương pháp ủ chượp - kéo rút, còn miền Bắc Trung bộ lại kết hợp ủ chượp - phơi nắng - đánh khuấy,... Tuy khác nhau là vậy nhưng dưới góc nhìn khoa học, bản chất của các phương pháp này đều hội tụ ở hai giai đoạn là thủy phân và lên men. “Ở giai đoạn thứ nhất, các enzyme proteaza trong nội tạng cá sẽ thủy phân protein trong thịt cá chuyển thành axit amin. Đến giai đoạn thứ hai, vi khuẩn trong đó sẽ phân giải đạm và lipid tạo thành các hợp chất dễ bay hơi tạo ra hương, mùi vị đặc trưng của nước mắm”, chị giải thích.
 
Quá trình làm ra những giọt nước mắm truyền thống do đó không hề nhanh. Thông thường, những người làm nước mắm truyền thống phải mất cả năm trời mới trích rút được sản phẩm còn đối với sản phẩm nước chấm công nghiệp, người ta thường bổ sung thêm enzyme proteaza để đẩy nhanh quá trình. Tuy có lợi về thời gian nhưng cách làm này lại ảnh hưởng đến hương vị. “Việc dùng enzyme có thể rút ngắn thời gian thủy phân, nhưng đến giai đoạn tạo hương vị lại rất kém”, PGS.TS. Lê Thanh Hà nói. Trong một bài phỏng vấn trên Tri Thức Trẻ, chuyên gia nước mắm Vũ Thế Thành cũng từng nhận xét về sự phức tạp của quá trình tạo hương nước mắm: “Người ta có thể rút ngắn thời gian chượp bằng cách dùng enzyme nhưng với hương thì không thể. Hương cần thời gian chượp ủ lâu mới hình thành được”.
 
Trong quá trình nghiên cứu, PGS.TS. Lê Thanh Hà và các cộng sự nhận thấy một trong những lời giải cho bài toán tạo hương nước mắm là các vi sinh vật sinh hương. Điều đầu tiên mà chị suy nghĩ là “trong các sản phẩm lên men, người ta hay dùng vi khuẩn lactic và trong tất cả các chủng vẫn được sử dụng trong nghiên cứu thì vi khuẩn lactic có tiềm năng nhất”. Đó là lý do để chị và cộng sự “đi thẳng vào nghiên cứu vi khuẩn lactic” để tìm những ứng viên sáng giá. Kết quả là nhóm nghiên cứu đã tìm ra một chủng vi khuẩn đặc biệt tiềm năng là Tetragenococcus Halophilus. Điểm độc đáo của nó là có khả năng sinh hương và chịu mặn cao, vượt trội hơn hẳn các hệ vi sinh vật sinh hương được sử dụng ở Việt Nam hiện nay bao gồm BacillusLactobacillusClostridiumLactococcus và Staphylococcus. Điểm khó của Tetragenococcus Halophilus là nó khó phân lập hơn so với các chủng thông thường vì “nó sinh trưởng rất chậm”.
 
Một số quốc gia sản xuất nước mắm trên thế giới đã đi theo xu hướng này: “Thái Lan là nước đầu tiên sử dụng Tetragenococcus Halophilus để làm chủng khởi động cho lên men nước mắm”, chị cho biết. Mặc dù các tài liệu tham khảo đều có đề cập đến cách phân lập song trong quá trình làm, “mình vẫn phải loay hoay tìm hiểu rất nhiều”, PGS.TS. Lê Thanh Hà nói. Đơn cử như việc lấy mẫu phân lập, “họ nói là phân lập từ nước mắm, mình cũng lấy mẫu nước mắm thành phẩm để làm nhưng không ra. Sau đó chúng tôi mới nhận ra là phải lấy mẫu trong các chượp mắm đang ủ. Khi làm được mẫu đầu tiên thì những mẫu sau đơn giản hơn rất nhiều”.
 
Từ những bước mày mò như vậy, nhóm nghiên cứu đã phân lập thành công các chủng vi khuẩn Tetragenococcus Halophilus từ các mẫu chượp mắm ở Cát Hải và Cửa Hội - những vùng sản xuất nước mắm nổi tiếng ở Hải Phòng và Nghệ An. “Chúng tôi đã lấy mẫu ở nhiều giai đoạn lên men khác nhau để chọn ra chủng tiềm năng nhất”, chị giải thích. “Sau bước định danh bằng PCR, chúng tôi đã thu được khá nhiều chủng”. Niềm vui của những người làm nghiên cứu không chỉ ở đó, những nỗ lực còn đã đem lại cho sản phẩm của họ một dấu ấn rất riêng: “Mặc dù cùng là Tetragenococcus Halophilus nhưng đặc tính hóa sinh của các chủng mà chúng tôi đã phân lập rất khác so với các chủng của Thái Lan. Điều này cũng dễ hiểu vì điều kiện tự nhiên mỗi nơi khác nhau dẫn đến khác biệt về đặc điểm di truyền”, chị chia sẻ và cho biết thêm “Vì nó khác nhau như thế nên hương vị nó đem lại chắc chắn không giống nhau”. Có thể đây là một trong những lý do mà nước mắm ở các vùng miền khác nhau lại có những hương vị khác nhau.
 
Thật kỳ lạ là những sinh vật bé nhỏ mà mắt thường không thể quan sát như Tetragenococcus Halophilus lại nắm giữ phần nào những giải pháp của cả ngành nước mắm truyền thống. Kết quả bước đầu cũng cho thấy hiệu quả của chủng vi khuẩn mà các nhà nghiên cứu đã phân lập, dù ở quy mô rất nhỏ. “Nước mắm bổ sung chủng vi khuẩn Tetragenococcus Halophilus của chúng tôi có thể lên hương sau sáu tháng lên men, thay vì chín tháng như thông thường. Hàm lượng nitơ tổng là 21g/l (đạt tiêu chuẩn nước mắm hạng 1 theo TCVN 5107:2003), trong đó hàm lượng đạm thối chỉ chiếm 15% so với nitơ tổng”, chị cho biết. Nhờ tính mới và tiềm năng ứng dụng cao, chủng vi khuẩn Tetragenococcus Halophilus V7-3 do nhóm nghiên cứu phân lập đã được Cục Sở hữu trí tuệ (Bộ KH&CN) cấp bằng bảo hộ giải pháp hữu ích vào năm 2021.
 
Tạo ra chế phẩm vi sinh
 
Thành công nho nhỏ bước đầu hẳn đã đem lại nhiều cơ hội cho PGS.TS. Lê Thanh Hà và cộng sự tìm đến những giải pháp đa dạng hơn, ví dụ như khả năng đa dạng hóa sản phẩm nước mắm truyền thống với nhiều hương vị khác nhau? “Hoàn toàn có thể”, chị hào hứng. “Chủng vi khuẩn mà chúng tôi đã đăng ký giải pháp hữu ích chỉ là một số các chủng đã phân lập thôi. Khi thử nghiệm, chúng tôi thấy mỗi chủng tạo ra hương và vị nước mắm khác nhau, rất thú vị”.
 
Để mở rộng cơ hội ứng dụng trong thực tế, chị và các cộng sự đã nghiên cứu tìm môi trường tăng sinh thay thế môi trường MRS (thường dùng tăng sinh và định lượng vi khuẩn lactic). “Nếu đưa vào ứng dụng trong thực tế thì phải có lượng sinh khối lớn, cho nên chúng tôi phải tìm môi trường nào giúp vi khuẩn phát triển nhanh hơn và có giá thành phù hợp”, PGS.TS. Lê Thanh Hà giải thích. Bằng các phương pháp tối ưu quy hoạch, nhóm nghiên cứu đã tìm ra môi trường nuôi cấy có thể giúp số lượng vi khuẩn tăng lên gấp đôi, vừa “rẻ hơn và đơn giản hơn rất nhiều so với môi trường MRS - có gần 10 thành phần, chúng tôi giảm đi chỉ còn khoảng 3-4 thành phần”, chị nói.
 
Dù đã nỗ lực song nhóm nghiên cứu biết rằng, còn rất nhiều việc phải làm với con vi khuẩn này nữa, nếu muốn áp dụng giải pháp này trong sản xuất. Do đó, hiện nay họ đang dấn thêm một bước nữa để thúc đẩy quá trình này: thực hiện đề tài tạo chế phẩm vi sinh chịu mặn sinh hương từ các chủng vi khuẩn đã phân lập. “Có thể nhờ vậy thì việc tạo chế phẩm sẽ dễ dàng vận chuyển, bảo quản và sử dụng hơn”, chị giải thích. “Hơn nữa, có chế phẩm rồi thì mới có thể thử nghiệm trên quy mô công nghiệp và đánh giá được chính xác hơn so với quy mô nhỏ”.
 
Bên cạnh vấn đề hương vị, quá trình sản xuất nước mắm truyền thống còn gợi mở nhiều bài toán thú vị khác cho các nhà nghiên cứu. “Chẳng hạn như giảm độ mặn hay tăng hiệu suất thu hồi, đây đều là những vấn đề rất quan trọng với doanh nghiệp. Chúng tôi đang cố gắng xem có thể cải tiến được hay không, làm thế nào để lên men triệt để, phần bã sau khi làm mắm không còn chút protein nào thì sẽ mang lại lợi ích kinh tế rất cao. Đây là bài toán rất cần quan tâm nhưng không dễ giải quyết”, chị nói.
Nguồn: khoahocphattrien.vn 

 

Bài viết cùng chuyên mục
  • VI SINH VẬT – BẠN HAY KẺ THÙ?

    Chúng ta không thể nhìn thấy chúng bằng mắt thường, không thể nghe hay cảm nhận được sự hiện diện trực tiếp của chúng, nhưng chúng luôn đồng hành cùng chúng ta ở mọi nơi.
  • KIỂM ĐỊNH TAXIMET CHO DÒNG XE ĐIỆN: BƯỚC ĐI CHIẾN LƯỢC NÂNG CAO UY TÍN HÃNG TAXI VÀ BẢO VỆ NGƯỜI TIÊU DÙNG

    Cùng với xu hướng chuyển đổi xanh trong giao thông vận tải, việc bảo đảm quyền lợi của người tiêu dùng trong lĩnh vực vận tải hành khách bằng taxi ngày càng được các cơ quan chức năng và doanh nghiệp đặc biệt chú trọng. Bên cạnh các biện pháp quản lý, kiểm tra thị trường, hoạt động kiểm định các phương tiện đo nhóm 2 như đồng hồ taximet đóng vai trò thiết thực để bảo đảm tính chính xác, minh bạch, chống gian lận thương mại và giữ vững trật tự trong kinh doanh.
  • ĐỔI MỚI QUẢN LÝ ĐO LƯỜNG, GIẢM THỦ TỤC, TẠO THUẬN LỢI CHO DOANH NGHIỆP

    (VietQ.vn) - Chiều 22/8/2026, tại Trụ sở các cơ quan của Quốc hội, Thường trực Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường tổ chức phiên họp mở rộng thẩm tra sơ bộ dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đo lường. Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường Nguyễn Thanh Hải chủ trì phiên họp. Phát biểu khai mạc phiên họp, Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường Nguyễn Thanh Hải cho biết, Luật Đo lường được Quốc hội ban hành năm 2011, đến nay đã được thực hiện gần 15 năm. Luật đã tạo lập khung pháp lý quan trọng cho hoạt động đo lường, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, bảo đảm công bằng trong giao dịch thương mại, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế.
  • TỰ HÀO MÙA THU LỊCH SỬ: PHÁT HUY TINH THẦN CÁCH MẠNG THÁNG TÁM VÀ QUỐC KHÁNH 02/9 TRONG GIAI ĐOẠN MỚI

    Mỗi dịp tháng Tám về và những ngày đầu tháng Chín gõ cửa, hòa chung trong không khí rộn ràng, quảng đại của những ngày thu lịch sử, hàng triệu trái tim người Việt lại xao xuyến, bồi hồi hướng về những mốc son chói lọi của dân tộc. Năm 2026, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta trang trọng kỷ niệm 81 năm Cách mạng Tháng Tám thành công và Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Đây không chỉ là dịp để chúng ta tôn vinh, ôn lại trang sử vàng vẻ vang của non sông, mà còn là cơ hội để mỗi viên chức và người lao động tại Trung tâm Kỹ thuật Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng nhìn lại trách nhiệm của bản thân, từ đó khơi dậy khát vọng cống hiến mãnh liệt cho sự nghiệp xây dựng đất nước phồn vinh.
  • KHỞI NGHIỆP TỪ TUỔI NGHỈ HƯU: CÂU CHUYỆN LÀM NÔNG NGHIỆP SẠCH CỦA MỘT PHỤ NỮ TẠI LÂM ĐỒNG

    Thay vì chọn cuộc sống an nhàn ở tuổi xế chiều, bà Trịnh Thị Truyền (ngụ phường Xuân Hương - Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng) lại bắt đầu hành trình mới với nông nghiệp công nghệ cao. Với sự kiên trì cùng sự đồng hành của Trung tâm Kỹ thuật Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng trong việc chuẩn hóa tiêu chuẩn VietGAP, mô hình của bà không chỉ mang lại thu nhập vững chắc mà còn trở thành điểm sáng nông nghiệp sạch tại địa phương.
  • THƯ NGỎ VỀ VIỆC THỬ NGHIỆM CHẤT LƯỢNG NƯỚC VÀ ĐO ĐIỆN TRỞ TIẾP ĐẤT ĐỊNH KỲ TẠI CÁC TRƯỜNG HỌC NĂM 2026

    (TDC Lâm Đồng) – Nhằm kiểm soát tốt chất lượng nguồn nước bảo đảm vệ sinh an toàn học đường, đồng thời phòng ngừa các nguy cơ tai nạn điện và bảo đảm an toàn phòng cháy chữa cháy trong mùa mưa bão, Trung tâm Kỹ thuật Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng tỉnh Lâm Đồng trân trọng gửi Thư ngỏ đến các cơ sở giáo dục trên địa bàn tỉnh với các nội dung trọng tâm:
  • CÁC QUY ĐỊNH MỚI VỀ VIÊN CHỨC VÀ ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP CÓ HIỆU LỰC TỪ NGÀY 01/7/2026

    Từ ngày 01/7/2026, nhiều quy định mới liên quan trực tiếp đến việc tổ chức, sử dụng và quản lý viên chức bắt đầu được áp dụng. Các văn bản tập trung vào vị trí việc làm, đánh giá chất lượng, xử lý kỷ luật và hợp đồng thực hiện công việc trong đơn vị sự nghiệp công lập. Theo đó, Luật Viên chức số 129/2025/QH15 cùng các Nghị định số 232/2026/NĐ-CP, 233/2026/NĐ-CP, 234/2026/NĐ-CP và 235/2026/NĐ-CP tạo cơ sở pháp lý để các đơn vị sự nghiệp công lập rà soát tổ chức bộ máy, cơ cấu viên chức và phương thức quản trị nhân sự.
  • Trung tâm Kỹ thuật Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng tỉnh Lâm Đồng thông báo tạm dừng báo giá

    Về việc dừng tiếp nhận báo giá Tư vấn thẩm định giá thiết bị phục vụ dự án “Nâng cấp sửa chữa cải tạo nhà làm việc và mua sắm bổ sung trang thiết bị cho Trung tâm Kỹ thuật Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng”
Top