Các quy định mới về viên chức và đơn vị sự nghiệp công lập có hiệu lực từ ngày 01/7/2026
Từ ngày 01/7/2026, nhiều quy định mới liên quan trực tiếp đến việc tổ chức, sử dụng và quản lý viên chức bắt đầu được áp dụng. Các văn bản tập trung vào vị trí việc làm, đánh giá chất lượng, xử lý kỷ luật và hợp đồng thực hiện công việc trong đơn vị sự nghiệp công lập.
Theo đó, Luật Viên chức số 129/2025/QH15 cùng các Nghị định số 232/2026/NĐ-CP, 233/2026/NĐ-CP, 234/2026/NĐ-CP và 235/2026/NĐ-CP tạo cơ sở pháp lý để các đơn vị sự nghiệp công lập rà soát tổ chức bộ máy, cơ cấu viên chức và phương thức quản trị nhân sự.
Quản lý viên chức theo vị trí việc làm
Luật Viên chức năm 2025 xác lập định hướng quản lý viên chức theo vị trí việc làm, năng lực, kết quả thực hiện nhiệm vụ và chất lượng phục vụ. Trên cơ sở đó, Nghị định số 232/2026/NĐ-CP quy định cụ thể việc xác định vị trí việc làm viên chức, gồm vị trí việc làm viên chức quản lý, vị trí việc làm chuyên môn, nghiệp vụ và vị trí việc làm hỗ trợ.
Việc xây dựng vị trí việc làm phải căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức và yêu cầu thực tế của đơn vị. Mỗi vị trí được xác định trên cơ sở nhóm nhiệm vụ có tính chất, nội dung công việc cơ bản giống nhau hoặc tương đồng; đồng thời gắn với bản mô tả công việc, khung năng lực, bậc nghề nghiệp, sản phẩm đầu ra và yêu cầu về trình độ, kỹ năng chuyên môn.
Nghị định số 232/2026/NĐ-CP cũng quy định danh mục vị trí việc làm viên chức theo ba phụ lục. Trong lĩnh vực khoa học và công nghệ, các vị trí chuyên môn, nghiệp vụ gồm nghiên cứu viên; kỹ sư; ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số; an toàn thông tin; đánh giá hợp chuẩn và hợp quy; năng suất, chất lượng; kiểm soát viên chất lượng sản phẩm, hàng hóa; quản lý giao dịch điện tử; quản lý, thúc đẩy phát triển tài nguyên Internet; đổi mới sáng tạo; sở hữu trí tuệ và quản lý khoa học, công nghệ.
Một điểm cần lưu ý là cùng một tên gọi vị trí có thể được xác định thuộc nhóm chuyên môn, nghiệp vụ hoặc nhóm hỗ trợ tùy theo chức năng, nội dung công việc và sản phẩm đầu ra thực tế. Chẳng hạn, vị trí “Ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số” có thể là vị trí hỗ trợ tại đơn vị kỹ thuật khi chủ yếu phục vụ hạ tầng số, phần mềm điều hành, dữ liệu nội bộ và số hóa hồ sơ; nhưng có thể là vị trí chuyên môn, nghiệp vụ tại đơn vị trực tiếp xây dựng nền tảng số, cơ sở dữ liệu, giải pháp công nghệ hoặc dịch vụ số.
Trong quá trình triển khai, việc xác định vị trí việc làm cần bắt đầu từ nhiệm vụ thực tế, khối lượng công việc và sản phẩm đầu ra của từng bộ phận. Đây là căn cứ để tránh việc bố trí nhân lực chỉ dựa trên tên gọi chức danh hoặc cơ cấu tổ chức đã có.

Đánh giá đơn vị sự nghiệp công lập và viên chức theo kết quả thực hiện nhiệm vụ
Nghị định số 233/2026/NĐ-CP quy định việc đánh giá, xếp loại chất lượng đối với cả đơn vị sự nghiệp công lập và viên chức. Việc đánh giá được thực hiện theo hướng dân chủ, công khai, công bằng, minh bạch, khách quan; gắn với chức năng, nhiệm vụ, mục tiêu, kế hoạch công tác và kết quả thực hiện nhiệm vụ của đơn vị, bộ phận và từng viên chức.
Nghị định quy định đánh giá bằng khung tiêu chí, kết hợp giữa tiêu chí định tính và định lượng, trong đó tập trung vào sản phẩm, công việc cụ thể, chất lượng, tiến độ và hiệu quả thực hiện nhiệm vụ. Việc theo dõi, đánh giá viên chức có thể được thực hiện hằng tháng hoặc hằng quý, làm căn cứ cho đánh giá, xếp loại chất lượng hằng năm.
Đối với đơn vị sự nghiệp khoa học và công nghệ, quy định này là cơ sở để đơn vị xây dựng tiêu chí đánh giá phù hợp với đặc thù từng lĩnh vực. Các đơn vị kỹ thuật có thể gắn tiêu chí với sản lượng hồ sơ, tiến độ trả kết quả, chất lượng chuyên môn, việc tuân thủ quy trình kỹ thuật và mức độ hài lòng của tổ chức, cá nhân sử dụng dịch vụ. Các đơn vị nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số có thể gắn với kết quả nghiên cứu, nhiệm vụ khoa học và công nghệ, cơ sở dữ liệu, giải pháp kỹ thuật, sản phẩm số, hoạt động chuyển giao hoặc hỗ trợ doanh nghiệp.
Khi vị trí việc làm, nhiệm vụ và sản phẩm đầu ra được xác định rõ, việc đánh giá chất lượng đơn vị và viên chức cũng có thêm cơ sở để thực hiện thống nhất, sát với kết quả công việc.

Hoàn thiện cơ chế xử lý kỷ luật viên chức
Nghị định số 234/2026/NĐ-CP quy định về xử lý kỷ luật viên chức, có hiệu lực từ ngày 01/7/2026. Nghị định quy định nguyên tắc, hành vi vi phạm, hình thức, thẩm quyền, trình tự và thủ tục xử lý kỷ luật đối với viên chức; các hình thức kỷ luật gồm khiển trách, cảnh cáo, cách chức đối với viên chức quản lý và buộc thôi việc.
Nghị định quy định việc xử lý kỷ luật phải bảo đảm đúng thẩm quyền, khách quan, công bằng, không xâm phạm thân thể, tinh thần, danh dự, nhân phẩm của viên chức. Hồ sơ, tài liệu và quyết định kỷ luật được lưu trong hồ sơ viên chức, đồng thời cập nhật vào cơ sở dữ liệu theo quy định.
Đáng chú ý, Nghị định quy định các trường hợp chưa xem xét xử lý kỷ luật như viên chức đang điều trị bệnh hiểm nghèo, mất khả năng nhận thức, đang mang thai, nghỉ thai sản, nuôi con dưới 12 tháng tuổi trong các trường hợp luật định hoặc đang bị khởi tố, tạm giữ, tạm giam chờ kết luận của cơ quan có thẩm quyền.
Đối với hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, việc thực hiện nghiêm quy trình chuyên môn, quản lý tài sản công, sử dụng kinh phí, bảo mật thông tin, quản lý hồ sơ và bảo đảm trách nhiệm theo vị trí việc làm là những nội dung cần được đơn vị thường xuyên rà soát, hướng dẫn và kiểm soát nội bộ.
Hợp đồng thực hiện công việc trong đơn vị sự nghiệp công lập
Nghị định số 235/2026/NĐ-CP quy định về hợp đồng thực hiện công việc trong đơn vị sự nghiệp công lập, bao gồm hợp đồng lao động và hợp đồng dịch vụ. Văn bản áp dụng đối với các công việc thuộc danh mục vị trí việc làm viên chức, công việc hỗ trợ phục vụ và các công việc khác theo quy định.
Nghị định quy định việc ký kết hợp đồng đối với vị trí việc làm chuyên môn, nghiệp vụ và vị trí việc làm hỗ trợ do người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập quyết định theo thẩm quyền. Đối với công việc thuộc vị trí quản lý, việc ký hợp đồng được thực hiện theo yêu cầu và điều kiện riêng, gắn với nhu cầu, mục tiêu, nhiệm vụ, sản phẩm và nguồn kinh phí thực hiện.
Quy định về hợp đồng tạo cơ sở để đơn vị xác định hình thức sử dụng nhân lực phù hợp với tính chất công việc, nhất là đối với nhiệm vụ có yêu cầu chuyên môn chuyên sâu, nhiệm vụ theo dự án, dịch vụ kỹ thuật, công việc có thời hạn hoặc nhu cầu hợp tác với chuyên gia, tổ chức, cá nhân có năng lực phù hợp. Hợp đồng cần xác định rõ nội dung công việc, tiêu chuẩn, thời hạn, sản phẩm đầu ra, tiến độ, kinh phí, trách nhiệm và quyền lợi của các bên theo quy định.
Đối với các đơn vị sự nghiệp hoạt động trong lĩnh vực khoa học và công nghệ, việc cập nhật quy định mới cần được thực hiện đồng thời với việc rà soát quy trình chuyên môn, hồ sơ chất lượng, tiêu chí đánh giá và yêu cầu phát triển nguồn nhân lực của từng lĩnh vực hoạt động.
Một số yêu cầu đặt ra đối với đơn vị sự nghiệp công lập
Việc các quy định mới đồng thời có hiệu lực từ ngày 01/7/2026 tạo cơ sở để đơn vị sự nghiệp công lập rà soát lại toàn bộ quy trình quản trị viên chức, từ xác định vị trí việc làm, bố trí nhân lực, xây dựng tiêu chí đánh giá đến tổ chức thực hiện hợp đồng và xử lý trách nhiệm trong thực hiện nhiệm vụ.
Đối với các đơn vị trong lĩnh vực khoa học và công nghệ, quá trình triển khai có thể tập trung vào việc rà soát chức năng, nhiệm vụ; xác định nhóm vị trí quản lý, chuyên môn, nghiệp vụ và hỗ trợ; hoàn thiện bản mô tả công việc, khung năng lực và cơ cấu bậc nghề nghiệp; xây dựng tiêu chí đánh giá gắn với kết quả chuyên môn; đồng thời rà soát quy chế làm việc, quy chế đánh giá, quy trình hợp đồng và quy định nội bộ có liên quan.
Theo Nghị định số 232/2026/NĐ-CP, các bộ, ngành, địa phương có trách nhiệm hoàn thành việc phê duyệt vị trí việc làm và bố trí viên chức theo vị trí việc làm trước ngày 01/7/2027. Đây là mốc cần được các cơ quan, đơn vị chủ động theo dõi để tổ chức thực hiện phù hợp với lộ trình chung.
Việc triển khai đồng bộ Luật Viên chức và các Nghị định số 232, 233, 234, 235/2026/NĐ-CP tạo điều kiện để công tác tổ chức, sử dụng và phát triển đội ngũ viên chức được thực hiện trên cơ sở vị trí việc làm, yêu cầu năng lực, kết quả thực hiện nhiệm vụ và đặc thù hoạt động của từng đơn vị sự nghiệp công lập.
Lê Thành Trung