Hotline: 0252 3822390 - 0908700379 lamdongtdc@gmail.com
Danh mục
Slide mặc định
Slide mặc định
Slide mặc định
Slide mặc định
Slide mặc định
Slide mặc định
Slide mặc định
Slide mặc định

SẮP CÓ TIÊU CHUẨN KỸ THUẬT QUỐC GIA VỀ NƯỚC MẮM TRUYỀN THỐNG

03/04/2024 2111 lượt xem

Bộ NN&PTNT đang xây dự thảo Tiêu chuẩn kỹ thuật quốc gia “Nước mắm truyền thống” (sau đây gọi tắt là Dự thảo) và lấy ý kiến các đối tượng chịu tác động.

Dự thảo quy định các yêu cầu kỹ thuật về: cơ sở, nguyên liệu, quy trình sản xuất; chất lượng sản phẩm; an toàn thực phẩm; phụ gia thực phẩm; phương pháp thử; ghi nhãn; đóng gói; bảo quản và vận chuyển. Dự kiến các văn bản sẽ ảnh hưởng đến các cơ sở sản xuất nước mắm truyền thống.

Theo Bộ NN&PTNT, sản phẩm nước mắm của Việt Nam đã nổi tiếng trong nước và quốc tế với các địa danh như Cát Hải, Nam Ô, Phan Thiết, Phú Quốc, Nha Trang, Bình Định, Thanh Hóa, Nghệ An,... Gần đây với các chủ trương, chính sách cho phát triển làng nghề truyền thống, các chương trình phát triển thương hiệu, “mỗi xã một sản phẩm - OCOP” của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, nghề làm nước mắm truyền thống ở các địa phương ven biển đã được phục hồi và phát triển tốt. Qua thời gian, nước mắm ngày càng được các nghệ nhân trong nghề, nhà sản xuất hoàn thiện quy trình công nghệ, nâng cấp điều kiện sản xuất đáp ứng yêu cầu về chất lượng sản phẩm, an toàn thực phẩm và mẫu mã bao bì để phù hợp thị hiếu của người tiêu dùng.

Theo Báo cáo tổng kết nhiệm vụ cấp Bộ: “Nghiên cứu cơ sở khoa học làm căn cứ xây dựng quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước mắm" do Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thuỷ sản 3 thực hiện, các cơ sở sản xuất nước mắm có ủ chượp và ủ chượp có đóng chai là 4.188 cơ sở, chiếm tỷ lệ 98,5%; Các cơ sở pha chế, đóng chai nước mắm, nhưng không ủ chượp là 62 cơ sở, chiếm tỷ lệ 1,5% trên tổng số 4.250 cơ sở sản xuất nước mắm có trong cả nước.

Tổng sản lượng nước mắm cả nước là 236,90 triệu lít/năm. Trong đó, miền Bắc 34,65 triệu lít/năm (14,6%), miền Trung 129,77 triệu lít/năm (54,8%), miền Nam 72,48 triệu lít/năm (30,6%). Năng lực xuất khẩu nước mắm bình quân cả nước hơn 21,12 triệu lít/năm (12,1% tổng sản lượng), trong đó miền Bắc xuất khẩu khoảng 1,0%; miền Trung 13,8%; miền Nam 15,2%. Thị trường đang lưu thông 3 dòng sản phẩm chính: nước mắm nguyên chất, nước mắm truyền thống (không chất bảo quản) và nước mắm pha chế (pha loãng, có chất bảo quản).

Về phân hạng: có 7 loại nước mắm phân chia theo độ đạm dao động từ 10 đến 60 độ đạm, mỗi loại cách nhau 5 độ đạm. Nguyên liệu để sản xuất nước mắm: Chủ lực là các loài cá biển gồm cá cơm, cá nục, cá trích và cá tạp có giá trị kinh tế thấp. Cả nước có khoảng 94,9% cơ sở sản xuất dùng cá cơm, 58,1% cơ sở sản xuẩt dùng cá nục, 12,8% cơ sở sản xuất dùng cá trích, 6,8% cơ sở sản xuất dùng cá tạp. Cá được dùng để sản xuất nước mắm là cá tươi, không dùng cá bảo quản bằng hóa chất và cá đông lạnh.

Về quy trình sản xuất nước mắm: Các cở sở sản xuất nước mắm theo phương thức cổ truyền (gia truyền) với thời gian lên men (ủ chượp) nhanh nhất là 6,3 tháng, lâu nhất là 26,7 tháng, trung bình là 13 tháng. Cụ thể: quy trình gài nén náo đảo được dùng phổ biến nhất: bình quân cả nước 85,3% số cơ sở sản xuất, miền Bắc là 76,9%, miền Trung là 93,5% và miền Nam là 75,0%; Quy trình gài nén không náo đảo được áp dụng ít phổ biến hơn, cả nước có 9,5% cơ sở sản xuất áp dụng; ở miền Bắc là 3,8%, ở miền Trung là 4,8%, ở miền Nam là 25,0%; Quy trình đánh khuấy được áp dụng ít nhất, cả nước có 5,2% cơ sở sản xuất áp dụng; miền Bắc là 19,2%, miền Trung là 1,6% và ở miền Nam không áp dụng.

Các tiêu chuẩn liên quan đến nước mắm đến nay có: Tiêu chuẩn ngành thủy sản số 58TCN 7:74 - Nước mắm ban hành năm 1974; Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành các tiêu chuẩn TCVN 5107:1993 và TCVN 5107:2003. Đến năm 2018, Bộ Khoa học và Công nghệ đã ban hành TCVN 5107:2018 - Nước mắm.

Ở cấp cơ sở, Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP) năm 2016 ban hành TCCS 01:2016/NMTT Nước mắm truyền thống – Yêu cầu kỹ thuật; Năm 2021, Hiệp hội nước mắm truyền thống Việt Nam ban hành tiêu chuẩn cơ sở TCCS 01:2021/VATFI - Nước mắm truyền thống. Ở cấp quy chuẩn, đến thời điểm hiện tại có quy chuẩn QCVN 02-16:2012/BNNPTNT Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia Cơ sở sản xuất nước mắm - Điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm và Quy chuẩn kỹ thuật địa phương: nước mắm Phú Quốc số QCĐP 01:2023/KG.

Thực tế nước mắm được sản xuất theo các quy trình công nghệ khác nhau, các quy trình sản xuất này đã ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ hiện đại để làm tăng tính đa dạng của sản phẩm và thuận lợi hơn cho các cách thức sản xuất nước mắm và tiếp cận tốt hơn đến thị hiếu của người tiêu dùng (liên quan đến mùi vị, màu sắc, bao gói, ghi nhãn,...).

 Ảnh minh hoạ.

Nước mắm là sản phẩm truyền thống lâu đời của người Việt Nam. Những sản phẩm nước mắm được sản xuất theo quy trình truyền thống đặc trưng cho các vùng miền khác nhau của Việt Nam mang lại hương vị, màu sắc rất đặc thù cho từng vùng miền đó. Do vậy, nhu cầu cần phải bảo tồn và phát triển nghề sản xuất nước mắm truyền thống để tạo ra những sản phẩm mang đậm hương vị, bản sắc văn hóa ẩm thực truyền thống của từng vùng miền ở Việt Nam là rất cần thiết và đó cũng là nguyện vọng của các nhà sản xuất nước mắm tại các địa phương trong cả nước. Tuy nhiên các tiêu chuẩn hiện hành về nước mắm chưa có đầy đủ yếu tố để phân biệt rõ các sản phẩm nước mắm được sản xuất theo quy trình truyền thống hay quy trình công nghệ hiện đại.

Lý do xây dựng tiêu chuẩn

Theo định nghĩa của Ủy ban Châu Âu, một loại thực phẩm được coi là truyền thống nếu “cách sử dụng được chứng minh là được truyền giữa các thế hệ với một thế hệ con người ít nhất là 25 năm’’ (Council Regulation (EC) Số 509/2006). Trong Quy định (EU) số 1151/2012, Điều 3, “truyền thống” có nghĩa là “việc sử dụng đã được chứng minh trên thị trường nội địa trong một khoảng thời gian cho phép truyền giữa các thế hệ; khoảng thời gian này ít nhất là 30 năm”.

Ở châu Âu, định nghĩa chính thức được tìm thấy cho các sản phẩm “thực phẩm truyền thống’’ đến từ Bộ Nông nghiệp Ý, định nghĩa sản phẩm thực phẩm truyền thống là “Các sản phẩm nông nghiệp có phương pháp chế biến, bảo quản và làm chín được củng cố theo thời gian theo cách sử dụng thống nhất và liên tục tại địa phương”.

Tại Hàn Quốc, theo Khoản 4, Điều 2, Luật Xúc tiến Công nghiệp Thực phẩm (Food Industry Promotion Act), thuật ngữ “thực phẩm truyền thống” có nghĩa là “thực phẩm có mùi vị, hương vị và màu sắc độc đáo của ẩm thực truyền thống Hàn Quốc, được sản xuất, chế biến và nấu theo các phương pháp được truyền lại từ xa xưa trên cơ sở các sản phẩm nông nghiệp và thủy sản của Hàn Quốc, được sử dụng làm nguyên liệu hoặc thành phần chính của chúng". Ngoài ra, thuật ngữ “ẩm thực truyền thống” có thể đề cập đến các công thức nấu ăn được kế thừa từ thời cổ đại trên cơ sở các sản phẩm của Hàn Quốc sử dụng làm nguyên liệu hoặc thành phần chính của sản phẩm.

Như vậy, một trong những cách hiểu thực phẩm truyền thống là biểu hiện của văn hóa, bản sắc, di sản và lối sống. Thói quen ăn uống cũng góp phần tạo nên quan niệm về món ăn truyền thống. Định nghĩa về thực phẩm truyền thống cũng được áp dụng cho các thành phần truyền thống và phương pháp chuẩn bị truyền thống.

Liên minh châu Âu nhằm thúc đẩy, bảo vệ tên tuổi và quản lý chất lượng sản phẩm thực phẩm truyền thống đã xây dựng ba chương trình chỉ dẫn địa lý và đặc sản truyền thống. Ngay từ năm 1992, Liên minh Châu Âu đã ban hành các quy định cụ thể để chỉ định các sản phẩm gắn liền với yếu tố truyền thống: Chỉ định xuất xứ được bảo vệ (Protected Designation of Origin-PDO), Chỉ dẫn Địa lý được bảo vệ (Protected Geographical Indication-PGI) và Bảo đảm Đặc sản Truyền thống (Traditionally Specific Guaranteed-TSG). Các chương trình này giúp khuyến khích việc sản xuất các loại thực phẩm độc đáo dựa trên đặc điểm đất đai, phong tục và tập quán, cũng như phương pháp sản xuất, chế biến của chúng.

Theo Khoản 1 Điều 3 Nghị định số 52/2018/NĐ-CP ngày 12/4/2018 về phát triển ngành nghề nông thôn giải thích “Nghề truyền thống là nghề đã được hình thành từ lâu đời, tạo ra những sản phẩm độc đáo, có tính riêng biệt, được lưu truyền và phát triển đến ngày nay hoặc có nguy cơ bị mai một, thất truyền”.

Tại Khoản 2 Điều 5 Nghị định này quy định Tiêu chí công nhận nghề truyền thống: Nghề được công nhận là nghề truyền thống phải đạt cả 03 tiêu chí sau: a) Nghề đã xuất hiện tại địa phương từ trên 50 năm và hiện đang tiếp tục phát triển tính đến thời điểm đề nghị công nhận; b) Nghề tạo ra những sản phẩm mang bản sắc văn hóa dân tộc; c) Nghề gắn với tên tuổi của một hay nhiều nghệ nhân hoặc tên tuổi của làng nghề.

Đối chiếu với quy định tại Nghị định số 52/2018/NĐ-CP thì nghề làm nước mắm ở Việt Nam là một nghề truyền thống. Trên thực tế ở nhiều nơi, nghề làm nước mắm đã trở thành “Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia” như Nghề làm nước mắm Nam Ô ở thành phố Đà Nẵng (Quyết định số 2974/QĐ-BVHTTDL ngày 27 tháng 8 năm 2019 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) hay Nghề làm nước mắm Phú Quốc (Quyết định số 2974/QĐ-BVHTTDL ngày 27 tháng 8 năm 2019 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch).

Như vậy, với đánh giá tình hình chung nêu trên cũng như các quy định hiện hành của Việt Nam và một số quốc gia trên thế giới thì việc xây dựng một tiêu chuẩn về sản phẩm nước mắm được sản xuất theo quy trình truyền thống lâu đời của các vùng miền là rất cần thiết. Đối với các sản phẩm nước mắm được sản xuất theo quy trình truyền thống sẽ tạo ra hương vị, màu sắc đặc thù tùy theo quy trình của từng vùng miền. Đặc trưng chung của các quy trình sản xuất nước mắm truyền thống là lên men tự nhiên từ cá và muối theo các phương pháp ủ chượp gài nén, gài nén có náo đảo và đánh quậy (hay đánh khuấy).

Việc xây dựng TCVN cho sản phẩm nước mắm sản xuất theo phương pháp truyền thống để làm rõ các tiêu chí trong quá trình sản xuất và chất lượng sản phẩm “nước mắm truyền thống” là cần thiết cho sự bảo tồn giá trị văn hóa, bảo tồn và phát triển một nghề sản xuất có truyền thống lâu đời từ các vùng miền ở Việt Nam. Để từ đó, nâng cao giá trị sản phẩm “nước mắm truyền thống” và thúc đẩy triển khai các hoạt động về chỉ dẫn địa lý, bảo hộ xuất xứ, chứng nhận sản phẩm vùng miền cũng như bảo hộ nhãn hiệu thương mại, nhãn hiệu tập thể.

Theo Quyết định số 2643/QĐ-BNN-KHCN ngày 12/7/2022 của Bộ NN&PTNT về phê duyệt Danh mục và kinh phí các nhiệm vụ xây dựng tiêu chuẩn quốc gia, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia năm 2023; Quyết định số 337/QĐ-QLCL ngày 30/12/2022 về việc phê duyệt đề cương Tiêu chuẩn quốc gia “Nước mắm truyền thống” đã giao cho Trung tâm Kiểm nghiệm kiểm chứng và tư vấn chất lượng nông lâm thủy sản chủ trì, phối hợp với Hiệp hội Nước mắm truyền thống Việt Nam xây dựng tiêu chuẩn Quốc gia “Nước mắm truyền thống”.

Mục đích xây dựng tiêu chuẩn

Theo Bộ NN&PTNT, mục đích xây dựng tiêu chuẩn nhằm đưa ra các định nghĩa, yêu cầu về nguyên liệu, quá trình và thời gian chế biến của nước mắm truyền thống và các yêu cầu kỹ thuật có liên quan; Phân hạng cho sản phẩm nước mắm truyền thống dựa trên các chỉ tiêu cảm quan, chỉ tiêu chất lượng đặc thù chỉ có ở quá trình lên men từ cá và muối.

Bên cạnh đó, bổ sung thêm căn cứ để các cơ sở chế biến nước mắm công bố chất lượng và tuân thủ các mức chất lượng, an toàn thực phẩm đã công bố. Cơ quan chức năng có thêm cơ sở để các cơ quan quản lý nhà nước quản lý các sản phẩm nước mắm.

Nguyễn Hạnh ST
Theo VietQ.vn

 

Bài viết cùng chuyên mục
  • VI SINH VẬT – BẠN HAY KẺ THÙ?

    Chúng ta không thể nhìn thấy chúng bằng mắt thường, không thể nghe hay cảm nhận được sự hiện diện trực tiếp của chúng, nhưng chúng luôn đồng hành cùng chúng ta ở mọi nơi.
  • KIỂM ĐỊNH TAXIMET CHO DÒNG XE ĐIỆN: BƯỚC ĐI CHIẾN LƯỢC NÂNG CAO UY TÍN HÃNG TAXI VÀ BẢO VỆ NGƯỜI TIÊU DÙNG

    Cùng với xu hướng chuyển đổi xanh trong giao thông vận tải, việc bảo đảm quyền lợi của người tiêu dùng trong lĩnh vực vận tải hành khách bằng taxi ngày càng được các cơ quan chức năng và doanh nghiệp đặc biệt chú trọng. Bên cạnh các biện pháp quản lý, kiểm tra thị trường, hoạt động kiểm định các phương tiện đo nhóm 2 như đồng hồ taximet đóng vai trò thiết thực để bảo đảm tính chính xác, minh bạch, chống gian lận thương mại và giữ vững trật tự trong kinh doanh.
  • ĐỔI MỚI QUẢN LÝ ĐO LƯỜNG, GIẢM THỦ TỤC, TẠO THUẬN LỢI CHO DOANH NGHIỆP

    (VietQ.vn) - Chiều 22/8/2026, tại Trụ sở các cơ quan của Quốc hội, Thường trực Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường tổ chức phiên họp mở rộng thẩm tra sơ bộ dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đo lường. Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường Nguyễn Thanh Hải chủ trì phiên họp. Phát biểu khai mạc phiên họp, Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường Nguyễn Thanh Hải cho biết, Luật Đo lường được Quốc hội ban hành năm 2011, đến nay đã được thực hiện gần 15 năm. Luật đã tạo lập khung pháp lý quan trọng cho hoạt động đo lường, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, bảo đảm công bằng trong giao dịch thương mại, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế.
  • TỰ HÀO MÙA THU LỊCH SỬ: PHÁT HUY TINH THẦN CÁCH MẠNG THÁNG TÁM VÀ QUỐC KHÁNH 02/9 TRONG GIAI ĐOẠN MỚI

    Mỗi dịp tháng Tám về và những ngày đầu tháng Chín gõ cửa, hòa chung trong không khí rộn ràng, quảng đại của những ngày thu lịch sử, hàng triệu trái tim người Việt lại xao xuyến, bồi hồi hướng về những mốc son chói lọi của dân tộc. Năm 2026, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta trang trọng kỷ niệm 81 năm Cách mạng Tháng Tám thành công và Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Đây không chỉ là dịp để chúng ta tôn vinh, ôn lại trang sử vàng vẻ vang của non sông, mà còn là cơ hội để mỗi viên chức và người lao động tại Trung tâm Kỹ thuật Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng nhìn lại trách nhiệm của bản thân, từ đó khơi dậy khát vọng cống hiến mãnh liệt cho sự nghiệp xây dựng đất nước phồn vinh.
  • KHỞI NGHIỆP TỪ TUỔI NGHỈ HƯU: CÂU CHUYỆN LÀM NÔNG NGHIỆP SẠCH CỦA MỘT PHỤ NỮ TẠI LÂM ĐỒNG

    Thay vì chọn cuộc sống an nhàn ở tuổi xế chiều, bà Trịnh Thị Truyền (ngụ phường Xuân Hương - Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng) lại bắt đầu hành trình mới với nông nghiệp công nghệ cao. Với sự kiên trì cùng sự đồng hành của Trung tâm Kỹ thuật Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng trong việc chuẩn hóa tiêu chuẩn VietGAP, mô hình của bà không chỉ mang lại thu nhập vững chắc mà còn trở thành điểm sáng nông nghiệp sạch tại địa phương.
  • THƯ NGỎ VỀ VIỆC THỬ NGHIỆM CHẤT LƯỢNG NƯỚC VÀ ĐO ĐIỆN TRỞ TIẾP ĐẤT ĐỊNH KỲ TẠI CÁC TRƯỜNG HỌC NĂM 2026

    (TDC Lâm Đồng) – Nhằm kiểm soát tốt chất lượng nguồn nước bảo đảm vệ sinh an toàn học đường, đồng thời phòng ngừa các nguy cơ tai nạn điện và bảo đảm an toàn phòng cháy chữa cháy trong mùa mưa bão, Trung tâm Kỹ thuật Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng tỉnh Lâm Đồng trân trọng gửi Thư ngỏ đến các cơ sở giáo dục trên địa bàn tỉnh với các nội dung trọng tâm:
  • CÁC QUY ĐỊNH MỚI VỀ VIÊN CHỨC VÀ ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP CÓ HIỆU LỰC TỪ NGÀY 01/7/2026

    Từ ngày 01/7/2026, nhiều quy định mới liên quan trực tiếp đến việc tổ chức, sử dụng và quản lý viên chức bắt đầu được áp dụng. Các văn bản tập trung vào vị trí việc làm, đánh giá chất lượng, xử lý kỷ luật và hợp đồng thực hiện công việc trong đơn vị sự nghiệp công lập. Theo đó, Luật Viên chức số 129/2025/QH15 cùng các Nghị định số 232/2026/NĐ-CP, 233/2026/NĐ-CP, 234/2026/NĐ-CP và 235/2026/NĐ-CP tạo cơ sở pháp lý để các đơn vị sự nghiệp công lập rà soát tổ chức bộ máy, cơ cấu viên chức và phương thức quản trị nhân sự.
  • Trung tâm Kỹ thuật Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng tỉnh Lâm Đồng thông báo tạm dừng báo giá

    Về việc dừng tiếp nhận báo giá Tư vấn thẩm định giá thiết bị phục vụ dự án “Nâng cấp sửa chữa cải tạo nhà làm việc và mua sắm bổ sung trang thiết bị cho Trung tâm Kỹ thuật Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng”
Top